Phụ từ là gì

  -  

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.95 MB, 134 trang )




Bạn đang xem: Phụ từ là gì

- Có sự thiếu thống nhất về tiêu chí phân loại hư từ. Có người dựa vào ýnghĩa từ vựng hoặc ý nghĩa ngữ pháp, có tác giả căn cứ vào từ nguyên hoặc khảnăng tổ hợp với các từ thực. Cũng có tác giả dựa vào cả chức năng lẫn ý nghĩa (Nguyễn Kim Thản, Panfilov) hoặc Lê Văn Lý lại dựa vào thực từ để phân loại hư từv.v...Chính vì tiêu chí phân loại của các tác giả khác nhau nên dẫn đến có nhữngnhóm phụ từ khác nhau.- Có sự thiếu thống nhất về tên gọi: Các tác giả thường dựa vào chức nănghoặc ý nghĩa của hư từ để gọi tên. Chẳng hạn Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn...gọi là phó từ; Trần Trọng Kim gọi là trạng từ, Hoàng Tuệ gọi là tiểu từ; NguyễnAnh Quế gọi là các hư từ chuyên dùng làm thành tố phụ đoản ngữ v.v...Chính vì lẽđó, để có cơ sở làm việc, chúng tôi đã theo cách gọi của từ điển tiếng Việt do HoàngPhê (chủ biên) và xin đưa ra một khái niệm về phụ từ như sau:Phụ từ là những từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực mà chỉ đi kèmdanh từ, động từ - tính từ để bổ sung ý nghĩa phụ cho danh từ, động từ - tính từ.2.2. Đặc điểm và kiểu loại của phụ từ tiếng Việt.Phụ từ cũng giống như kết từ và trợ từ, chúng cùng là hư từ. Vì thế ngoàinhững đặc điểm chung (đặc điểm của hư từ), nó còn có những đặc điểm riêng:- Phụ từ thường đi kèm danh từ, động - tính từ để cấu tạo cụm từ- Phụ từ không làm thành phần chính của câuDựa vào khả năng làm thành tố phụ cho danh từ hay động từ - tính từ, phụ từđược chia ra thành: Định từ và phó từ.17 2.2.1. Định từLà những từ chuyên đi kèm trước danh từ. Định từ được chia ra thành cácnhóm sau:- Định từ “cái” chỉ xuất: Thường đứng trước danh từ chỉ loại, hoặc đồngthời cả danh từ chỉ loại và danh từ thực. Nó cũng có thể đứng trước danh từ trừutượng và danh từ chỉ chất liệu- Định từ chỉ lượng: mỗi; từng; mọi; mấy...Thường dùng trước danh từ chỉ ýnghĩa phân phối về lượng- Định từ tạo ý nghĩa số: những; các; một ...Thường để cấu tạo ý nghĩa sốnhiều/ số ít. Khác với các ngôn ngữ Ấn- Âu, ý nghĩa số ít hay số nhiều được thểhiện trong dạng thức của từ còn trong tiếng Việt lại được thể hiện ở dạng từ rời.“Những”, “các” cùng đứng trước danh từ để tạo ý nghĩa số nhiều, nhưng chúng cósự khác nhau trong cách sử dụng. “Các” thường đứng trước những danh từ để chỉ ýnghĩa toàn bộ còn “những” dùng trước những danh từ chỉ ý nghĩa số đông (chứkhông phải tất cả). Chính vì “các” chứa ý nghĩa “toàn bộ” nên thường đứng trướcdanh từ xưng hô trong hội thoại để dạng thức hóa số nhiều.Trong tiếng Việt “một”đứng trước danh từ để tạo ý nghĩa số ít (trong sự đối lập với số nhiều).Ta thườngthấy “một” đi thành cặp sóng đôi với các từ chỉ số lượng: trăm, vạn, nghìn v.v... đểtạo sự đối lập số ít và số nhiều.2.2.2. Phó từLà những từ chuyên đi kèm phía trước và sau động từ - tính từ để làm thànhtố phụ cho đoản ngữ.

Xem thêm: Top 13 Tựa Game Đối Kháng Cho Android Và Ios Không Nên Bỏ, Top 9 Game Đối Kháng Hay Nhất Trên Android Và Ios


Xem thêm: Cách Chuyển Game Từ Ổ C Sang Ổ D, Cách Chuyển Dữ Liệu Từ Ổ C Sang Ổ D Windows 10


Có những phó từ chuyên đứng trước hay chuyên đứng sauđộng - tính từ nhưng cũng có những phó từ vừa có khả năng đứng trước vừa có khảnăng đứng sau động - tính từ.- Phó từ đứng trước động từ - tính từ. Chúng gồm các từ: đã, đang, sẽ, vừa,mới, sắp, từng, vẫn, còn, cứ, càng, đều, cùng, cũng, thường, hay, năng, có, chỉ,không, chưa, chẳng, hãy, đừng, chớ, bỗng, chợt, liền, dần, mãi, hơi, rất, cực kì,vô cùng ... Có thể chia chúng thành những nhóm nhỏ sau:18 + Nhóm phó từ chỉ thời gian của hành động: đã, sẽ, đang, sắp, vừa, mới,bỗng, còn ...+ Nhóm phó từ chỉ sự tiếp diễn của hành động: đều, cũng, vẫn, cứ, còn, lại,luôn, dần, thỉnh thoảng ...+ Nhóm phó từ chỉ sự phủ định hay khẳng định của hành động: không,chưa, chẳng, chỉ, có ...+ Nhóm phó từ chỉ sự cầu khiến: hãy, đừng, chớ ...+ Nhóm phó từ chỉ mức độ thường đi với tính từ hoặc nhóm động từ tìnhthái, động từ trạng thái: quá, rất, hơi, cực kì, cô cùng, tuyệt, khá, khí ...+ Nhóm phó từ chỉ sự diễn biến bất ngờ của hành động: bỗng, bỗng nhiên,bỗng dưng, chợt ...- Phó từ đứng sau động từ - tính từ. Chúng gồm những từ: đi, lên, được, mất,ra, nổi, vào, đi, về, rồi, xong, lấy, theo, nhau, ngay, liền, dần, nữa, hoài, luôn, mãi...Có thể chia chúng thành những nhóm nhỏ sau:+ Nhóm phó từ chỉ sự kết thúc hành động: xong, rồi ...+ Nhóm phó từ chỉ kết quả hành động: được, mất, ra, nổi ...+ Nhóm phó từ chỉ hành động tự mình : tự, lấy ...+ Nhóm phó từ biểu thị ý nghĩa gia tăng hay tan rã, tách rời: lên, ra, đi, lại...+ Nhóm phó từ chỉ sự tiếp tục: nữa, mãi, hoài, luôn ...+ Nhóm phó từ chỉ sự tương hỗ: nhau- Phó từ vừa có khả năng đứng trước vừa có khả năng đứng sau: mãi, vôcùng, tuyệt, cực kỳ, luôn luôn, mãi mãi, quá, luôn, dần, liền...3.HƢ TỪ NÓI CHUNG VÀ PHỤ TỪ NÓI RIÊNG TỪ GÓC NHÌN NGỮ DỤNGHỌC.3.1.Tìm hiểu vai trò ngữ dụng học của hƣ từ thông qua một vài tƣ liệuvà những ứng dụng trong nghiên cứu của luận văn.Hư từ thường được coi như một phạm trù từ loại đối lập với thực từ theocách nhìn của ngữ pháp truyền thống. Tuy không nói ra nhưng người ta dễ cảmnhận được chức năng ngữ pháp của nó hơn là chức năng ngữ nghĩa trong các kết19 hợp. Bên cạnh đó người ta ngày càng chú ý đến loại hư từ đang biến động từ thực từvà được sử dụng song song với thực từ. Đối tượng này phần lớn chưa được khảo sáttriệt để trong cơ chế giao tiếp gắn với lời nói, do vậy hiệu lực giao tiếp của nó chưađược phát hiện đầy đủ. Vậy làm thế nào để xác định được hiệu lực giao tiếp của hưtừ nói chung và phụ từ nói riêng? Đây là khâu trực tiếp nhất, cụ thể nhất và mấuchốt nhất đối với tiến trình giải quyết vấn đề đặt ra. Và thực ra, đây cũng chính làchỗ mà các nhà ngữ pháp tiền dụng học khó vượt qua dễ dàng, do quan điểm tĩnh,nặng về cấu trúc hình thức, xem nhẹ chức năng giao tiếp- một chức năng vốn là tiềnđề khách quan cho sự phát sinh và phát triển ngôn ngữ. Như vậy, đã đến lúc vấn đềhư từ cần được xem xét trong hoạt động mở của ngôn ngữ gắn với hiệu lực giao tiếpcủa chính nó từ góc nhìn ngữ dụng học.Qua bước đầu khảo sát các cứ liệu tiếng Việt, một số tác giả như: NguyễnLai, Văn Chính... đã xác định được là: nghĩa giao tiếp là loại nghĩa được thể hiệnqua hoạt động giao tiếp gắn với cơ chế mở của ngôn ngữ. Nét nghĩa của hư từ trongtrạng thái hoạt động gắn với cơ chế này thường rất khó nhận dạng và hầu nhưkhông thể trực tiếp định nghĩa bằng khái niệm logic, vì những lẽ sau đây:- Ngữ nghĩa gốc của yếu tố ấy thường bị áp lực của hệ thống kết cấu làmbiến dạng, rất khó cảm nhận.- Thường trong khi hành chức, nó không mang một chức năng cú pháp quenthuộc, được sẵn định hoàn toàn thống nhất theo quan niệm và quan điểm truyềnthống.- Chỉ nằm trong kết cấu cụ thể đó, nó mới đảm nhận sắc thái “nghĩa” mà tađang khó cảm nhận, cho nên nó không thuộc loại nghĩa phổ quát của từ điển để tacó thể tra cứu; trái lại, ở đây ta phải chủ động tìm cách xác định nó qua “văn cảnhdụng học”.Để làm rõ hơn những điều đã nói ở trên, các tác giả đã đưa ra ví dụ cụ thểnhư sau:Cô ấy đẹp ra. (1)Cậu nói đến hay. (2)Nó vừa mất đi mười triệu. (3)20